Page 248 - Trinh bay Dia chi Quang Yen final
P. 248

Phaàn III: Heä thoáng chính trò    247



                  Tuy nhiên, do thiếu quan lại cao cấp, vua Minh Mệnh phải đặt 14 liên tỉnh, tỉnh
               Quảng Yên thuộc liên tỉnh Hải - Yên (Hải Dương - Quảng Yên) do một Tổng đốc đứng
               đầu. Các tỉnh kép, chức Tổng đốc kiêm Tuần phủ, nhưng tỉnh Quảng Yên đặt chức Tuần
               phủ riêng, kiêm việc Bố chính sứ .
                                                  (1)
                  Bên dưới cơ quan hành chính địa phương cấp tỉnh là phủ, đứng đầu là viên Tri phủ
               hoặc Thự tri phủ (tạm quyền Tri phủ), thay mặt triều đình và nhà vua giải quyết các
               công việc quân, dân trong phủ. Thông thường, chức Tri phủ là người địa phương khác
               đảm trách, nhằm tránh sự nể nang thiên vị đối với những quan hệ ruột thịt. Bên dưới
               phủ là cơ quan hành chính cấp huyện - châu, đứng đầu là Tri huyện, chịu trách nhiệm
               trước phủ, tỉnh về việc quản lý, cai trị người dân và thi hành các chính sách của Nhà
               nước. Dưới huyện là tổng, đơn vị trung gian giữa xã và huyện. Đứng đầu tổng là Cai
               tổng , thay thế cho chức Tổng trưởng, có trách nhiệm đốc thúc chính quyền làng xã
                    (2)
               thực hiện nghĩa vụ công ích về thuế, phu, lính cho Nhà nước và giữ trật tự trị an các
               làng xã trong tổng. Dưới tổng là xã do Lý trưởng  đứng đầu, có nhiệm vụ đốc thúc dân
                                                                  (3)
               đinh nộp cho đủ ba nghĩa vụ công ích về thuế, phu, lính cho Nhà nước.
                  Dưới thời Minh Mệnh, tổ chức bộ máy làng xã ở Quảng Yên ngày nay tương đối hoàn
               chỉnh với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau, gồm: Lý trưởng là người có quyền cao
               nhất do dân làng bầu theo luật lệ của Nhà Nguyễn; Phó lý thay Lý trưởng khi đi vắng,
               phụ trách đê điều; Thủ bạ và Chưởng bạ phụ trách lưu giữ sổ sách; Thủ đê lo việc bảo
               vệ đê điều; Thủ xóm phụ trách thôn xóm .
                                                          (4)
                  Thời Pháp thuộc

                  Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà
               (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sau khi chiếm được ba tỉnh
               miền Đông và ba tỉnh miền Tây Nam Bộ, thực dân Pháp tiến hành đánh chiếm Hà Nội
               và các tỉnh Bắc Kỳ, trong đó có tỉnh Quảng Yên.

                  Tháng 3/1883, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và chiếm được thành
               Quảng Yên. Sau khi chiếm được thành Quảng Yên, Pháp cho xây dựng các công trình
               phục vụ cho hoạt động cai trị như: trại lính, dinh Tỉnh trưởng, Sở Mật thám, Kho bạc...,
               mở rộng các khu phố cũ như: phố Yên Hưng, phố Trần Hưng Đạo, phố Nguyễn Du, phố
               Hoàng Hoa Thám và đổi tên một số con phố. Thị xã Quảng Yên trở thành nơi nghỉ dưỡng
               và tập trung bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở vùng Đông Bắc.
                  Từ sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884), thực dân Pháp đặt ách cai trị trên toàn lãnh
               thổ Việt Nam, đồng thời tiến hành kiện toàn bộ máy cai trị các cấp, trong đó có bộ máy
               cai trị ở tỉnh Quảng Yên.

                  Tại tỉnh Quảng Yên, đứng đầu tỉnh là một viên Công sứ người Pháp. Công sứ là người
               thay mặt cho Thống sứ Bắc Kỳ nắm quyền điều hành, giám sát toàn bộ hoạt động của tỉnh,

               (1)  Xem Trương Thị Yến (Chủ biên): Lịch sử Việt Nam, tập 5, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017,
               tr.116.
               (2)  Xem Đỗ Bang (Chủ biên): Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802 - 1884, sđd, tr.163.
               (3)  Từ năm 1828, chức xã trưởng được thay thế bằng chức lý trưởng.
               (4)  Xem Huy Vu, Trần Lâm: “Thông báo về cuộc điều tra nghiên cứu các làng xã thuộc khu Hà Nam
               huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên”, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập 1, sđd, tr.370.
   243   244   245   246   247   248   249   250   251   252   253