Page 245 - Dang bo huyen Lang Giang qua cac ky Dai hoi
P. 245

ÑAÛNG BOÄ HUYEÄN LAÏNG GIANG QUA 22 KYØ ÑAÏI HOÄI


               2.2. Phương hướng, mục tiêu 2 năm (1988 - 1991)

               Phương hướng chung

               Nâng cao tinh thần chủ động sáng tạo, khai thác tốt tiềm năng
            lao động, đất  đai,  ngành nghề; tập  trung sức phát  triển nông
            nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Thực hiện có hiệu
            quả 3 chương trình kinh tế lớn, trước hết giải quyết vững chắc
            vấn đề lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu. Coi đây là
            hướng chiến lược để phát triển kinh tế những năm tới. Ổn định
            và bước đầu cải thiện đời sống nhân dân.

               Mục tiêu chủ yếu

               Phấn đấu trong 2 năm (1988 - 1991), tổng sản lượng lương
            thực đạt từ 51.000 - 52.000 tấn/năm; bình quân lương thực đầu
            người đạt 350 kg/năm.
               Phát triển nhanh đàn lợn cả trên quy mô tổng đàn và trọng

            lượng xuất khẩu chuồng; tổng đàn lợn từ 50.000 - 52.000 con, sản
            lượng thịt lợn hơi từ 2.500 - 2.600 tấn/năm, phát triển mạnh đàn
            trâu, bò, dê có tổng đàn 14.500 con.

               Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhằm phục
            vụ tốt sản xuất, đời sống và xuất khẩu. Giá trị sản lượng công
            nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 50 - 52 triệu đồng (theo giá
            cố định năm 1982); tỷ trọng giá trị tổng sản lượng công nghiệp
            và tiểu thủ công nghiệp chiếm 12% giá trị tổng sản lượng chung.
            Giá trị xuất khẩu đạt 520.000 rúp, đô-la/năm.
               Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống dưới 1,5% (năm 1990).

               Đến năm 1990, có thêm 10 chi, đảng bộ cơ sở được công nhận
            vững mạnh, đưa tổng số chi, đảng bộ cơ sở vững mạnh lên 45
            (chiếm 57,5% tổng số chi, đảng bộ cơ sở). Trong 2 năm kết nạp
            được 300 quần chúng ưu tú vào Đảng.

               Củng cố chính quyền cơ sở, đến năm 1990 có 70% số cơ sở khá,
            không còn yếu kém.

                                                                            245
   240   241   242   243   244   245   246   247   248   249   250