Page 258 - Dang bo huyen Lang Giang qua cac ky Dai hoi
P. 258

ÑAÛNG BOÄ HUYEÄN LAÏNG GIANG QUA 22 KYØ ÑAÏI HOÄI


            lương thực - thực phẩm; tăng cường đầu tư công tác thủy lợi, đẩy
            mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ, tăng năng
            suất cây trồng, vật nuôi và thực hiện chính sách khoán theo Nghị
            quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI). Nhờ thực hiện đồng bộ các
            biện pháp, năm 1989, diện tích gieo trồng đạt 22.509ha, trong đó
            diện tích lúa đạt 14.327ha, năng suất đạt 33,44 tạ/ha, sản lượng
            lương thực quy thóc đạt 50.104 tấn - đây là năm có sản lượng
            lương thực cao nhất so với nhiều năm trước.

               Năm 1990, thời tiết không thuận lợi, đầu năm rét đậm kéo dài,
            mưa nhiều làm cho một số diện tích lúa phải cấy lại nhiều lần.
            Đến kỳ lúa trổ bông, sâu bệnh phát sinh trên diện rộng làm giảm
            đáng kể năng suất. Với quan điểm “lấy mùa bù chiêm”, huyện có
            nhiều biện pháp chỉ đạo kịp thời và đồng bộ: vận động Nhân dân
            tập trung cấy hết diện tích, tăng tỷ lệ lúa mùa sớm lên 60%, tích
            cực chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh... nên sản xuất lương thực
            vẫn duy trì. Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 23.559ha. Diện
            tích các loại cây thực phẩm tăng 29% so với năm 1989. Sản lượng
            lương thực quy thóc đạt gần 51.000 tấn. Cây công nghiệp ngắn
            ngày được chú trọng phát triển. Năm 1989, toàn huyện trồng
            được 1.180ha; đến năm 1990, cây đậu tương tăng 4% so với kế
            hoạch, cây thuốc lá tăng 10% so với năm 1989.

               Lĩnh vực chăn nuôi ngày càng phát triển. Do cơ chế mới, thị
            trường được mở rộng cùng với chính sách khoán mới trong nông
            nghiệp, hằng năm, số lượng đàn trâu, bò, lợn và gia cầm đều
            tăng mạnh. Năm 1990, đàn lợn có 61.731 con, tổng đàn trâu, bò
            có 19.429 con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 5,5 nghìn tấn.
            Phong trào phát triển kinh tế hộ gia đình được đẩy mạnh. Năm
            1990, toàn huyện có 18.224 hộ làm kinh tế gia đình giỏi. Số hộ
            làm kinh tế đồi rừng là 2.506 hộ. Kinh tế gia đình góp phần tăng
            sản phẩm hàng hóa cho xã hội và thu nhập cho người lao động.

               Về phát triển lâm nghiệp
               Lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp có nhiều đổi mới trong quản lý.
            Năm 1989, có 5 xã thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng đến hộ
            xã viên. Năm 1990, có thêm 1.500 hộ nhận khoán đất rừng với

            258
   253   254   255   256   257   258   259   260   261   262   263