Page 284 - Dang bo huyen Lang Giang qua cac ky Dai hoi
P. 284

ÑAÛNG BOÄ HUYEÄN LAÏNG GIANG QUA 22 KYØ ÑAÏI HOÄI


            các giống nguyên chủng và cấp 1. Một số cây, con có giá trị kinh
            tế cao đã được tuyển chọn và đưa vào sản xuất, bước đầu đạt kết
            quả như: mở rộng và phát triển chăn nuôi cá lồng bè, lai tạo đàn
            bò, nuôi con đặc sản, gà công nghiệp, trồng vải thiều, cam, quýt,
            trồng dâu nuôi tằm... Qua đó góp phần giải quyết việc làm, mở
            rộng ngành nghề, tăng thu nhập cho Nhân dân đồng thời đưa
            cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp từ 88,7% (năm 1991) giảm
            xuống còn 79,8% (năm 1995).

               Lĩnh vực chăn nuôi: Do sản xuất phát triển cùng với sự tác
            động của cơ chế thị trường đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển.
            Tổng đàn lợn bình quân tăng 7,6%/năm. Năm 1995, tổng đàn
            lợn đạt 77.955 con, vượt 11.000 con so với chỉ tiêu Đại hội đề ra.
            Đàn trâu, bò tăng bình quân hằng năm 2,4%. Trọng lượng xuất
            chuồng tăng, đàn lợn sinh sản phát triển. Đàn gia cầm từng bước
            chuyển sang chăn nuôi có đầu tư, sản lượng đàn gia cầm tăng từ
            346 tấn (năm 1991) lên 469 tấn (năm 1994). Trong công tác thủy
            lợi, đảm bảo trên 90% diện tích tưới chủ động, đồng thời khắc
            phục được nhiều vùng úng, ngập cục bộ.

               Lĩnh vực lâm nghiệp
               Cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực sản xuất
            lâm nghiệp được coi trọng. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn về
            vốn, thực hiện phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng trồng
            rừng”, những năm 1991 - 1995 huyện đều hoàn thành kế hoạch
            trồng rừng tập trung, bình quân mỗi năm trồng được gần 200ha
            rừng tập trung. Phong trào trồng cây trong Nhân dân theo các mô
            hình vườn rừng, đồi rừng, kinh doanh rừng theo hướng nông, lâm
            kết hợp đang được phát triển. Việc chỉ đạo triển khai giao đất lâm
            nghiệp cơ bản giao đến hộ nông dân.

               Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

               Tập trung chủ yếu ở một số ngành nghề sửa chữa cơ khí nhỏ
            phục vụ sản xuất nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, chế
            biến lương thực, dịch vụ may mặc, vận tải, chế biến lâm sản... Đến
            năm 1995, toàn huyện có 653 cơ sở sản xuất, thu hút 1.150 lao
            động, giá trị tổng sản lượng đạt 2.789 triệu đồng (theo giá cố định

            284
   279   280   281   282   283   284   285   286   287   288   289