Page 297 - Dang bo huyen Lang Giang qua cac ky Dai hoi
P. 297

ÑAÛNG BOÄ HUYEÄN LAÏNG GIANG QUA 22 KYØ ÑAÏI HOÄI


            đầu người đạt 340 kg/năm trở lên. Tổng đàn lợn 100.000 con, đàn
            trâu 14.000 con và đàn bò 10.000 con.
               Đẩy  nhanh  tốc  độ  tăng  trưởng  kinh  tế,  đến  năm  2000  đạt
            11,05%; cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp 64%, tiểu thủ công nghiệp
            và xây dựng cơ bản 16%, thương nghiệp, dịch vụ 20%. Thu nhập
            bình quân đầu người tăng 1,5 lần so với năm 1995. Tạo việc làm
            mới cho 20.000 lao động.
               Khuyến  khích  các  thành  phần  kinh  tế  phát  triển.  Mở  rộng
            các thị trấn, thị tứ, thành lập thị trấn Vôi trở thành trung tâm
            huyện lỵ. Phát triển tiểu thủ công nghiệp, hướng phát triển chủ
            yếu là chế biến lương thực, thực phẩm. Sản xuất và khai thác
            vật liệu xây dựng. Mở rộng nghề mộc dân dụng, khai thác và chế
            biến gỗ. Đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn đồi, chuyển 2.000ha
            ven đồi thấp và diện tích trồng ban đầu đã hết chu kỳ, cải tạo
            1.100ha vườn gia đình sang trồng các cây ăn quả. Khôi phục và
            phát triển vùng trồng thuốc lá của 8 xã phía Bắc, ổn định diện
            tích trồng ngô đông giống mới, đậu tương. Hằng năm, phấn đấu
            trồng 2.000ha ngô, trên 1.200ha đậu tương. Tiếp tục thực hiện
            đề án trồng dâu nuôi tằm ở các xã ven sông Thương và phát triển
            nghề nuôi cá lồng bè, nuôi gà công nghiệp và các con gia cầm.

               Đổi mới và tăng cường hoạt động của các đơn vị sản xuất kinh
            doanh. Củng cố hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. Mở
            rộng và phát triển quỹ tín dụng nhân dân. Đến năm 2000, 100%
            các xã, thị trấn xây dựng được quỹ tín dụng nhân dân.

               Phấn đấu từng bước tiến tới cân bằng thu ngân sách trên địa
            bàn huyện.

               Ổn định và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân
            dân, hằng năm, giảm 50% số hộ nghèo. Đổi mới và nâng cao chất
            lượng giáo dục toàn diện. Củng cố hệ thống giáo dục mầm non,
            100% các xã, thị trấn hoàn thành xây dựng trường mẫu giáo,
            mở thêm trường cấp 3 khu vực phía Bắc huyện. Đến năm 2000,
            100% số xã, thị trấn có trường học cao tầng. Thực hiện tốt các
            chương trình y tế quốc gia bảo đảm chăm sóc sức khỏe ban đầu
            cho Nhân dân. Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể
            dục thể thao.

                                                                            297
   292   293   294   295   296   297   298   299   300   301   302