Page 898 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 898

858                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             ngói vào năm Khải Định nguyên niên (1916). Một thời gian
             sau, ngôi  đền bị hư hỏng, bà Phạm Thị Tuyên, hiệu Diệu
             Diễn có công trong việc tu sửa ngôi đền vào năm 1946. Năm

             Mậu Tý (1948), ngôi  đền gặp gió bão hư hỏng, lại tiếp tục
             được tu sửa .
                          1
                 Đầu thế kỷ XX, khi cảng Cẩm Phả được xây dựng, hình

             thành phố cảng, miếu được xây dựng mở rộng quy mô. Năm
             1948,  đền thờ  Đức thánh Ông Cửa Suốt là Hưng Nhượng
             Đại Vương Trần Quốc Tảng được xây dựng bên cạnh miếu

             Hoàng Cần.
                 Theo Quyết định số 2188/QĐ-UBND ngày 30/9/2014 của
             Ủy ban nhân dân tỉnh, đền Cửa Ông hiện nay đã được quy

             hoạch, tu bổ và mở rộng, toàn bộ khuôn viên đền có diện tích
             181.250 m . Đền gồm 3 khu phân bố từ thấp lên cao: Đền Hạ,
                         2
             Đền Trung và Đền Thượng.
                 Đền Hạ
                 Đền Hạ  ở vị trí thấp nhất, nằm bên trái của trục  Đền
             Trung và  Đền Thượng.  Đền Hạ thờ Tam tòa Thánh Mẫu,

             Trung Thiên Long Mẫu, các ông hoàng bà chúa của Tứ phủ .
                                                                                2
             Khu Đền Hạ mới được trùng tu tôn tạo năm 1997, bao gồm

             Đền Mẫu và Đền Trung Thiên Long Mẫu.
                 Đền Mẫu gồm các hạng mục công trình: đền chính, sân,
             lầu chuông và nhà khách. Đền chính có mặt bằng hình chữ

             _______________

                 1. Xem Phạm Duy Linh:  Di tích  đền Cửa Ông  Đông Hải linh  từ,
             Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2021, tr.129-130.
                 2. Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt
             trận Tổ quốc phường Cửa Ông: Kỷ yếu quá trình 40 năm xây dựng và
             phát triển của phường Cửa Ông (1981 - 2021), Sđd, tr.59.
   893   894   895   896   897   898   899   900   901   902   903