Page 569 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 569
Phần thứ hai: LỊCH SỬ 537
Thị xã đã thực hiện chủ trương đẩy mạnh sản xuất rau để
phục vụ cho nhu cầu của công nhân và nhân dân khu mỏ bằng
cách thâm canh, tăng vụ và từng bước mở rộng diện tích
chuyên canh rau. Do đó, sản lượng rau tăng nhanh chóng, năm
1975: đạt 6.685 tấn, năm 1979: tăng lên đạt 11.119 tấn . Về sản
1
xuất lương thực, năm 1975, toàn thị xã sản xuất được 72 tấn
lương thực quy thóc, riêng thóc là 49,5 tấn; năm 1979: sản xuất
được 916 tấn lương thực quy thóc, riêng thóc là 459 tấn ; năm
2
3
1980: sản xuất được 1.402,76 tấn lương thực quy thóc .
Tính đến năm 1982, 5/5 hợp tác xã vùng rau, 2/5 hợp tác xã
vùng lúa đã tiến hành khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
động. Tổng sản lượng lương thực quy thóc của thị xã có sự tăng
trưởng qua các năm. Năm 1984, tổng sản lượng lương thực quy
thóc là 1.273 tấn, đạt 104% kế hoạch (trong đó thóc đạt gần
700 tấn) ; năm 1985, tổng sản lượng lương thực quy thóc tăng
4
lên 1.600 tấn, đạt 174,5% kế hoạch (trong đó thóc đạt 1.200 tấn) ,
5
hoàn thành nghĩa vụ lương thực đối với Nhà nước.
Thị xã duy trì và giữ vững sản xuất của các hợp tác xã
chuyên canh rau, tổng sản lượng rau xanh sản xuất trên
_______________
1, 2. Xem: “Báo cáo của Ủy ban nhân dân thị xã Cẩm Phả kiểm
điểm tình hình chỉ đạo phát triển kinh tế từ năm 1975 đến nay, phương
hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch năm 1980 và dự kiến kế hoạch
5 năm 1981 - 1985”, Tlđd, tr.3, 2.
3. Xem: “Báo cáo số 55-BC/TU của Thị ủy Cẩm Phả tổng kết năm
1980 và phương hướng, nhiệm vụ năm 1981, ngày 01/12/1980”, Tlđd, tr.2.
4. Xem: “Báo cáo Thị ủy Cẩm Phả tổng kết công tác năm 1984 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 1985, ngày 02/01/1985”, Tài liệu lưu tại
Văn phòng Thành ủy Cẩm Phả, tr.1.
5. Xem: “Báo cáo số 34-BC/TU của Thị ủy Cẩm Phả tổng kết công tác
năm 1985, ngày 20/11/1985”, Tài liệu lưu tại Văn phòng Thành ủy Cẩm
Phả, tr.1.

