Page 612 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 612

580                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             Nhà máy đã xuất khẩu 12.500 tấn; năm 2010 đạt 2,3 triệu
             tấn/năm. Tháng 7/2009, Nhà máy Nhiệt  điện Cẩm Phả I
             phát điện hòa vào mạng lưới quốc gia với công suất 300 MW.
             Đến năm 2010, trên  địa bàn thành phố có ba nhà máy

                                                                1
             nhiệt điện với tổng công suất đạt 3.000 MW . Trên địa bàn
             Cẩm Phả có bốn doanh nghiệp với tổng vốn  đăng ký  đạt
             45 triệu USD, trong  đó ba doanh nghiệp liên doanh với
             ngành than, sản xuất thiết bị điện, cơ khí, lắp ráp xe tải

             hạng trung và một doanh nghiệp sản xuất giày xuất khẩu
             100% vốn nước ngoài. Công nghiệp địa phương đã đóng góp
             lớn cho ngân sách thị xã, tích cực tham gia xây dựng và

             ủng hộ vào các quỹ từ thiện, nhân đạo, phong trào xóa đói,
             giảm nghèo của tỉnh và địa phương
                 Về sản xuất thủ công nghiệp, chính quyền thị xã đã kiên

             quyết giải thể 13  đơn vị làm  ăn thua lỗ,  đồng thời cho
             chuyển  đổi theo mô hình hoạt  động phù hợp. Thị xã cũng
             tập trung  đầu tư phát triển các ngành, nghề có thế mạnh

             như sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa ôtô, tàu thuyền,
             cơ khí dân dụng và cơ khí chế tạo nhỏ, sản xuất đồ gỗ, vận
             tải; đồng thời, đầu tư mở rộng các ngành, nghề mới như sản

             xuất bia hơi, nước lọc, đúc gang, sản xuất giấy xuất khẩu,...
             Đến năm 2000, thị xã có 42 cơ sở sản xuất kinh doanh ổn
             định và phát triển. Đặc biệt, kinh tế thủ công nghiệp ngoài

             quốc doanh đã giải quyết việc làm cho 2.700 lao động, nộp
             ngân sách nhà nước từ 2.500 - 3.400 triệu đồng.
             _______________

                 1. Xem: “Đề  án tóm tắt thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh
             Quảng Ninh”, Tlđd, tr.4.
   607   608   609   610   611   612   613   614   615   616   617