Page 706 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 706

674                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             hướng nam”, nhà ở của người Kinh phổ biến là những ngôi
             nhà có từ ba đến năm gian đơn sơ, nền nhà cao tránh ẩm
             thấp và xoay hướng nam để đón gió. Vật liệu xây dựng chủ

             yếu được khai thác từ tự nhiên như tre nứa, gỗ, dây mây,
             dây leo, rơm rạ... Nhiều gia  đình kết hợp các khu nhà  ở
             chính với vườn cây, ao cá, hàng rào... tạo nên một chỉnh

             thể không gian sống khép kín.
                 Nhà ở truyền thống của dân tộc Sán Dìu lại có sự khác
             biệt  đáng kể với nhà  ở của người Kinh. Người Sán Dìu rất

             chú trọng vào việc xây dựng nhà cửa (tiếng Sán Dìu là ộc).
             Họ thường dựng nhà trên những sườn núi hay chân đồi, trước
             nhà thường là cánh đồng cấy lúa và trồng màu, phía sau dựa

             lưng  đồi núi hay rừng tiện cho việc khai thác lâm thổ sản.
             Nhà ở ưu tiên gần nguồn nước như sông, suối để thuận tiện

             cho việc lấy nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông
             nghiệp. Vật liệu xây dựng như cỏ gianh, gỗ, tre, nứa... hoàn
             toàn được khai thác ở trên rừng. Người Sán Dìu đặc biệt kiêng
             kỵ những cây gỗ bị cụt ngọn, chết khô, hay bị sét đánh bởi họ

             quan niệm những cây gỗ này đã bị ma làm hỏng, nếu lấy về
             dựng nhà sẽ  đem lại tai họa cho cả gia  đình . Từ những
                                                                   1
             nguyên liệu tự nhiên này, tùy theo điều kiện của gia đình mà
             nhà của người Sán Dìu được làm lớn, nhiều gian, hoặc nhỏ, ít
             gian. Tuy nhiên, dù lớn hay nhỏ nhìn chung đều theo khuôn

             mẫu: số gian nhà là số lẻ với bộ sườn đơn giản (người Sán Dìu
             đặc biệt kiêng số gian nhà chẵn). Hiện nay, người Sán Dìu đã
             sử dụng các vật liệu hiện đại (gạch, vôi, ximăng, ngói...) trong

             _______________

                 1. Xem Trần Quốc Hùng: Quang Hanh - Đất và Người, Sđd, tr.118-120.
   701   702   703   704   705   706   707   708   709   710   711