Page 923 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 923
Phần thứ ba: VĂN HÓA 883
và mở rộng. Các bộ đại tự, câu đối bằng gỗ sơn thếp, tiêu
biểu như:
Bức đại tự “佛法僧寳” (Phật Pháp Tăng bảo) có dòng lạc
khoản “Quý Tỵ niên quý hạ”, tức là đại tự được làm tháng 6
âm lịch năm Quý Tỵ, 1953; 大父慈悲 (Đại phụ từ bi) lạc
khoản đề “Long phi Quý Tỵ quý hạ”, tức là đại tự được làm
tháng 6 năm Quý Tỵ, 1953; 天龍献瑞 (Thiên long hiến thụy);
Cuốn thư 萬德圓彰 (Vạn đức viên chương) lạc khoản đề “癸巳
佛曆二五十七夏 - Quý Tỵ Phật lịch nhị ngũ thập thất hạ”, tức
các bức này được làm vào mùa hạ năm Quý Tỵ, Phật lịch
năm 2517, năm 1953 .
1
Các bộ câu đối:
- 三乘法雨福河沙天上人間蒙濟度 (Tam thừa pháp vũ phúc
hà sa thiên thượng nhân gian mông tế độ)/ 萬有恩霑仁海量含
靈抱識仰慈悲 (Vạn hữu ân chiêm nhân hải lượng hàm linh
bão thức ngưỡng từ bi), lạc khoản đề (錦普新圃太老仝恭進)
Cẩm Phả tân phố thái lão đồng cung tiến (Thái lão phố mới
Cẩm Phả cùng cung tiến);
- 錦上添花廣恒慈悲恩此界 (Cẩm Thượng thiêm hoa quảng
hằng từ bi ân thử giới), lạc khoản đề 龍飛癸巳夏 (Long phi
Quý Tỵ hạ)/普施厥德弘垂濟度福斯民 (Phổ thí quyết đức hoằng
thùy tế độ phúc tư dân), lạc khoản đề 弟子沙門字清規 (Đệ tử
sa môn tự Thanh Quy).
_______________
1. Phật lịch được tính bắt đầu từ năm 544 trước công nguyên, nên
Phật lịch năm thứ 2517 là năm 1973. Tuy nhiên, năm 1973 là năm Quý
Sửu, năm Quý Tỵ phải là năm 1953. Dựa vào niên đại của hàng loạt hiện
vật tại chùa (đặc biệt là các bức đại tự) cùng kiểu dáng và lịch sử ngôi
chùa, có lẽ dòng niên đại tính theo Phật lịch đã bị khắc nhầm. Niên đại
chính xác của đại tự này cũng là năm Quý Tỵ 1953.

