Page 451 - HỒ SƠ SỐ HÓA
P. 451
- Đặc điểm của hành vi có tính chất chiếm đoạt:
+ Hành vi chiếm đoạt xét về mặt khách quan là hành vi làm cho chủ tài sản
mất đi khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của
mình, đồng thời tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản đó. Đặc điểm này được thể hiện là về mặt thực tế đã
làm cho người chủ tài sản mất đi tài sản và tạo cho người chiếm đoạt có được tài
sản đó. Nếu một hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tế thực hiện
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản nhưng không ai có tài sản này thì
không phải là hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì không
làm cho chủ tài sản mất đi quyền sở hữu của mình mà chỉ mất đi khả năng thực
hiện các quyền đó mà thôi.
+ Tài sản bị chiếm đoạt phải đang nằm trong sự quản lý của một chủ thể, ở
đây chủ thể có thể là chủ tài sản hoặc có thể là người khác (quản lý hợp pháp
cũng như bất hợp pháp). Tài sản đã thoát li khỏi sự chiếm hữu, sự quản lí của
chủ tài sản (tài sản thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt.
Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể nói đến hành vi
chiếm đoạt, mới nói đến hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản.
Việc xác định đặc điểm này nhằm phân biệt đến một số tội phạm khác cũng có
hành vi chiếm đoạt nhưng tài sản đang thuộc trách nhiệm quản lý của người
phạm tội thì không được coi là phạm tội xâm phạm sở hữu.
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Biết hành vi này là chiếm đoạt tài sản của người khác
một cách trái phép nhưng vẫn mong muốn thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài
sản đó. Nếu người đó lầm tưởng tài sản là của mình hoặc tài sản không có người
quản lý thì không phải là hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Ý nghĩa:
+ Phân biệt các tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt với các tội phạm
không có tính chất chiếm đoạt.
+ Phân biệt các tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt với các quan hệ
pháp luật dân sự, kinh tế (không phải là tội phạm).

