Page 454 - HỒ SƠ SỐ HÓA
P. 454
+ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn bội tín để chiếm đoạt
tà sản của người khác. Nghĩa là, bội tín để chiếm đoạt một phần hay toàn bộ tài
sản được giao ngay thẳng do có sự tín nhiệm theo thỏa thuận của chủ tài sản.
- Phân biệt:
+ Về mặt khách quan:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi đưa ra thông tin gian dối làm cho
người khác tưởng giả là thật, tin mà giao tài sản. Đưa ra thông tin gian dối là
việc có lời nói, văn bản, hình ảnh, hiện vật hoặc các dạng thông tin khác không
đúng sự thật. Dựa vào các thông tin đó, chủ tài sản tin đó là sự thật, trên cơ sở
những thông tin này, chủ tài sản tự nguyện giao tài sản của mình cho người đưa
ra thông tin gian dối.
Người phạm tội nhận tài sản từ chủ tài sản do chủ tài sản đồng ý trao cho
họ trên cơ sở tin tưởng vào các thông tin gian dối mà họ đưa ra.
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản
hoặc nhận được tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối
hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có
điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục
đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Như vậy, tài sản
được chuyển giao từ chủ tài sản sang người phạm tội là bằng một hợp đồng dân
sự, hợp đồng thương mại. Các thông tin trong hợp đồng mà bên nhận tài sản đưa
ra không có sự gian dối, giả mạo.
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi giá trị tài
sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng có một
trong các tình tiết quy định tại điểm a,b,c,d của Khoản 1 Điều 174 Bộ luật
Hình sự.
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi
giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng
nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã
bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169,
170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn

