Page 312 - Dang bo huyen Lang Giang qua cac ky Dai hoi
P. 312

ÑAÛNG BOÄ HUYEÄN LAÏNG GIANG QUA 22 KYØ ÑAÏI HOÄI


            (năm 2000). Năng suất lúa từ 35,45 tạ/ha (năm 1996) tăng lên
            42 tạ/ha (năn 2000), tăng 6,55 tạ/ha so với năm 1996. Tổng sản
            lượng lương thực quy thóc hằng năm tăng từ 66.663 tấn (năm
            1996) lên 70.000 tấn (năm 2000), vượt 1.570 tấn so với mục tiêu
            Đại hội XVII đề ra. Bình quân lương thực đầu người đạt 365 kg/năm,
            vượt 25kg so với chỉ tiêu Đại hội. Duy trì ổn định các cây công
            nghiệp ngắn ngày như: lạc từ 500 - 600ha, đậu tương từ 900 -
            1.000ha. Các cây rau màu khác đạt từ 2.500 - 2.700ha, đã trở
            thành một trong những nguồn thu lớn của nông dân các vùng
            trồng  rau.  Toàn  huyện  đã  chuyển  dịch  2.834ha  đất  đồi  rừng,
            vườn tạp sang trồng cây ăn quả, tăng 2.305ha so với năm 1996
            và 250ha sang nuôi thả cá vụ bằng 50% so với chỉ tiêu Nghị quyết
            đại hội đề ra, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế, tạo việc làm cho
            khoảng 14.000 lao động. Trồng mới 723ha rừng, khoanh nuôi bảo
            vệ 248ha rừng tái sinh tự nhiên và trồng 1.096.000 cây phân tán
            các loại. Tốc độ chăn nuôi tăng trưởng bình quân hằng năm là
            2,5% và chiếm tỷ trọng 33,7% trong ngành nông, lâm nghiệp và
            26,2% trong các ngành kinh tế chủ yếu của huyện.

               Huyện ủy quan tâm chỉ đạo củng cố các hợp tác xã, chuyển
            đổi hoạt động của các hợp tác xã theo luật, bước đầu ổn định đi
            vào sản xuất kinh doanh có kết quả, có 5/26 hợp tác xã hoạt động
            khá, 19 hợp tác xã hoạt động trung bình.
               Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Các cấp ủy đảng quan
            tâm củng cố và phát triển một số ngành nghề như: sửa chữa cơ
            khí, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, chế biến
            lâm sản, dịch vụ vận tải... Đưa số cơ sở sản xuất công nghiệp,
            tiểu thủ công nghiệp từ 845 cơ sở (năm 1996) lên 1.100 cơ sở
            (năm 2000), tăng 255 cơ sở. Giá trị tổng sản lượng đạt 12,8 tỷ
            đồng, tăng 1,87 tỷ đồng so với năm 1996. Tốc độ tăng trưởng
            bình quân là 3,9%, cơ cấu tỷ trọng trong nền kinh tế là 3,5%.
            Kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh, ngoài việc thu hút vốn từ
            bên ngoài thông qua các dự án đầu tư và nguồn vốn vay từ ngân
            hàng, nhiều hộ gia đình đã khai thác tốt tiềm năng lao động, mở
            thêm ngành nghề mới làm phong phú thêm sản phẩm hàng hóa
            trên địa bàn huyện.

            312
   307   308   309   310   311   312   313   314   315   316   317