Page 770 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 770

730                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             chùa nói trên, Phật còn được phối thờ trong các đền, miếu
             cho thấy sự phát triển của Phật giáo ở Cẩm Phả trong các
             tầng lớp dân cư với vai trò là một hình thức tôn giáo phổ
             biến. Sinh hoạt và thực hành Phật giáo  đang góp phần

             trong việc tạo diện mạo mới cũng như thúc  đẩy sự phát
             triển kinh tế - xã hội của địa phương. Cùng với việc tăng về
             số lượng các chức sắc và nhà tu hành ở các ngôi chùa và cơ sở
             thờ tự khác thì việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản

             Phật giáo cũng được chính quyền, người dân và giáo hội Phật
             giáo quan tâm và đưa ra nhiều đường hướng, giải pháp.
                  Những hoạt động hoằng dương Phật pháp cùng với các

             hoạt động giáo dục, phát triển xã hội, thiện nguyện của các
             cơ sở thờ tự Phật giáo Cẩm Phả mà điển hình là chùa Phả
             Thiên cho thấy nhà chùa và các tăng ni, phật tử  đã thấm
             nhuần và hành động đúng tinh thần “Đạo pháp - Dân tộc -
             Chủ nghĩa xã hội”.
                 b) Công giáo

                 Giáo dân ở Cẩm Phả vốn là những nông dân các tỉnh Nam
             Định, Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng... ra làm  ăn theo
             đường mộ phu mỏ. Các họ đạo hình thành và các nhà thờ được
             xây dựng trong quá trình các chủ mỏ - thực dân Pháp mở rộng
             khai thác than. Năm 1999, xứ Cẩm Phả bao gồm 5.336 người,

             là giáo dân ở thị xã (nay là thành phố) Cẩm Phả, huyện Vân
             Đồn, huyện Cô Tô . Giáo xứ cũng trải qua nhiều lúc khó khăn,
                                 1
             thử thách, nhưng đời sống đức tin không ngừng củng cố, cơ sở
             vật chất cũng được quan tâm. Hiện nay, Giáo xứ Cẩm Phả có


             _______________

                 1. Xem Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Địa chí Quảng
             Ninh, Sđd, t.3, tr.590.
   765   766   767   768   769   770   771   772   773   774   775