Page 825 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 825
Phần thứ ba: VĂN HÓA 785
Một trong những dấu vết của quá trình giao thoa tâm linh
giữa việc thờ cúng theo lễ nghi của người bản địa với văn hóa
của các lớp cư dân mới là đền Cửa Ông nằm ở Cửa Suốt.
Khi thực dân Pháp hoàn thành công cuộc xâm lược và
tiến hành khai thác thuộc địa, thì Quảng Ninh nói chung,
Cẩm Phả nói riêng trở thành vùng mỏ lớn nhất Đông Dương.
Công cuộc khai thác than đã khiến một số lượng lớn dân cư
từ khắp nơi đổ về, định cư và gắn cuộc đời với vùng đất mới.
Đây là giai đoạn mà Cẩm Phả có những thay đổi đáng kể
trên nhiều phương diện, đời sống văn hóa cũng nảy sinh
những tập tục sinh hoạt mới, trên cơ sở/nền tảng văn hóa
truyền thống của các nhóm cư dân bản địa (tộc người thiểu
số) đã giao thoa với các nhóm người Việt (làm công việc trấn
nhậm, quản lý) trong thời trung đại. Lễ hội truyền thống của
người dân Cẩm Phả vẫn được tổ chức trong các làng xã
(người Việt) hoặc thôn bản (tộc người thiểu số), nay có thêm
sự xuất hiện, tham gia ít nhiều của các nhóm dân cư mới
(công nhân mỏ). Điều này cũng làm cho lễ hội truyền thống
trong các làng, xã, thôn bản của Cẩm Phả có những chuyển
biến nhất định, bổ sung thêm những yếu tố mới.
Lễ hội truyền thống ở Cẩm Phả trước năm 1945 có một số
đặc điểm như sau: (1) Lễ hội là tập tục sinh hoạt tâm linh
của các nhóm cư dân, tộc người thiểu số, đã định cư, sinh
sống trước khi người Việt đến trấn nhậm quản lý. (2) Lễ hội
truyền thống ở Cẩm Phả được diễn ra khi người Việt đến
định cư lâu dài và có giao thoa mạnh mẽ với các phong tục
tâm linh của các nhóm tộc người thiểu số. (3) Các nghi lễ tâm
linh trong lễ hội được hình thành và định hình trong thời
gian này. (4) Sang thời Pháp thuộc, số công nhân mỏ từ khắp

