Page 824 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 824

784                                   Cẩm Phả - Đất và Người


                 Thực chất, hoạt động tâm linh của các tộc người chủ yếu
             là những nghi lễ cộng đồng, mà không phải là các lễ hội theo
             “mô hình” của người Việt truyền thống trong các làng xã
             nông nghiệp vùng châu thổ. Đây cũng là điểm khác biệt giữa

             cộng  đồng các tộc người thiểu số  ở Cẩm Phả so với người
             Kinh (Việt) đến định cư sau này. Cùng với các nhóm cư dân
             bản  địa là tộc người thiểu số, thì người Việt  định cư, sinh
             sống  ở vùng  đất này từ khá sớm. Theo các nguồn tài liệu

             khác nhau, thì Quảng Ninh (trong đó có vùng đất Cẩm Phả)
             vào triều Lý đã có các quan lại trấn nhậm báo cáo về triều
             đình việc người nước ngoài đến Vân  Đồn  để buôn bán. Đại

             Việt sử ký  toàn thư  viết: “mùa xuân, tháng 2 (năm 1149)
             thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải
             Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo,
                                   1
             gọi là Vân  Đồn...” . Theo  Đại Nam nhất thống chí: “năm
             Thiệu Phong thứ 8 đời Trần Dụ Tông, thấy thuyền buôn các
             nước phần nhiều đậu ở Vân Đồn, bèn đặt lộ quan ở trấn Vân
             Đồn  để xem xét  ở ngoài biển, lại  đặt quận Bình Hải  để

             trấn...” . Hơn nữa, Cẩm Phả cũng là vùng đất “cửa ngõ” để từ
                     2
             Trung Hoa (cả trên bộ lẫn đường biển) vào Đại Việt và tiến
             về kinh sư Thăng Long. Quá trình người Việt đến sinh sống
             và cộng cư với các nhóm cư dân bản địa đã tạo nên quá trình

             giao thoa - tiếp biến văn hóa. Các nghi lễ - lễ hội tâm linh
             cũng vì thế mà có tương tác,  ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.


             _______________

                 1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd,
             t.1, tr.317.
                 2. Quốc sử quán triều Nguyễn:  Đại Nam nhất thống chí,  Sđd, t.4,
             tr.37-38.
   819   820   821   822   823   824   825   826   827   828   829