Page 823 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 823

Phần thứ ba: VĂN HÓA                                             783


                                         III- LỄ HỘI

                 1. Biến đổi và các hoạt động đặc trưng


                 a) Biến đổi của lễ hội qua các thời kỳ
                 - Thời kỳ trước năm 1945:
                 Trước khi người Pháp tới đây, Cẩm Phả là vùng đất cư
             trú của các tộc người như: Sán Dìu, Dao (Thanh Y, Thanh

             Phán), Tày, Nùng, Hoa... Chính vì vậy, đời sống văn hóa và
             các hoạt động tín ngưỡng tâm linh mang màu sắc của mỗi tộc
             người. Theo thư tịch cổ ghi chép lại, thì vùng  đất Quảng
             Ninh nói chung và châu Tiên Yên (trong đó có Cẩm Phả) nói

             riêng: “Ở biển nhiều phù sa, ít ruộng lúa, có người vào rừng
             đốn cây, có người ra biển đánh cá. Lễ tiết tế tự đại thể giống
             nhau (xã Vị Dương, huyện Yên Hưng, nhà nào còn cha mẹ,
             thì hằng năm cứ tháng Giêng, tháng 2, 3, 4 và 6, chọn ngày

             tốt lành, đều làm cỗ bàn kính dâng, lại kính biếu thầy học;
             châu Vạn Ninh, người Thanh, người Nùng  ở lẫn lộn, Tết
             Nguyên  đán  đốt pháo,  đêm trừ tịch thắp  đèn, Tiết Thanh
             minh tảo mộ, tiết Đông chí tế thần, Tết Đoan dương đặt tiệc

             rượu tế tổ tiên, lại đua thuyền hát xướng để cầu thần, tiết
             Trung thu làm bánh mặt trăng  để thưởng nguyệt. Cha mẹ
             còn sống thì sinh nhật  đặt tiệc mừng thọ, mời họ hàng  ăn
             uống cùng vui. Châu Tiên Yên người Nùng, người Thổ ở lẫn

             lộn, đầu năm nếu chưa động thổ, thì đi đêm không dám cầm
             đuốc, gặp mưa không dám  đội nón, chọn ngày tốt  để chơi
             đánh đu, tiết Đoan dương hái lá ngải treo ở cửa, các thức lá
             để làm trà, nấu rượu xương bồ để tế tổ)” .
                                                          1
             _______________

                 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Sđd, t.4, tr.14.
   818   819   820   821   822   823   824   825   826   827   828