Page 761 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 761
Phần thứ ba: VĂN HÓA 721
đình được mạnh khỏe. Những gia đình có con nhỏ hay người
trong thời kỳ sinh nở đều có bàn thờ mụ (pha công, pha mủ).
Người Sán Dìu có khái niệm “cúi” (ma) dùng để chỉ chung
thần, thánh, tổ tiên và ma quỷ dữ, nhưng cũng có sự phân
biệt rõ ma lành (hén cúi) là thần thánh, Phật, tổ tiên... và ma
dữ (thoọc cúi) là cô hồn, người chết không nơi thờ phụng.
Trong mỗi làng đều có miếu thờ thổ công. Tại đây thường
diễn ra các lễ cúng đầu năm (ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch)
và cuối năm (ngày 24 tháng Chạp) nhằm mục đích cầu an,
cầu tài lộc và tạ ơn trời đất. Tính cộng đồng trong các lễ này
rất rõ nét, lễ vật dâng cúng đều do thành viên trong làng
đóng góp và thường sẽ cắt cử một người coi sóc miếu thờ.
Tín ngưỡng thờ thành hoàng rất quan trọng, thể hiện
tính cộng đồng cao, mang đậm bản sắc tín ngưỡng của
người Sán Dìu. Người Sán Dìu thường lập đình thờ thành
hoàng cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được phong
đăng hòa cốc. Vị thành hoàng được các bản làng thờ thường
là Thổ thần (Thổ địa). Trong quá trình sinh sống với người
Kinh, người Sán Dìu hòa nhập với văn hóa của người Kinh.
Điển hình là đình Quang Hanh, tiếng Sán Dìu là Thếnh
Sạc Lống - đình Thạch Long, vốn là miếu thờ thành hoàng
của người Sán Dìu. Hiện nay, những ngày lễ tiết của người
Sán Dìu trong năm, gồm bốn tiết xuân, hạ, thu, đông phải
cúng ông Tiết: mùa xuân cúng Thanh minh (vào đúng ngày
lịch Thanh minh); ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch Tết Đoan
Ngọ phải đặt tối mồng 4 vì qua canh các cụ tâm linh đã đi
xem lễ hội đua thuyền rồng, cúng trước để các cụ mang đi
đường; tháng 7 cúng vào ngày 14, không cúng ngày 15;
ngày đông chí đều phải sắm mâm lễ cúng lên đình. Ngoài đình

