Page 60 - STK Mot so van de co ban ve che dinh cac giai doan co y thuc hien toi pham va dong pham trong LHS VN
P. 60

59


                  quan đến tội phạm cũng nhƣ các chi tiết khác mà họ cho là cần thiết. Do có sự

                  thông mƣu nhƣ vậy, cho nên nội dung sự phối hợp hoạt động của những ngƣời
                  đồng phạm có tính toán kỹ lƣỡng, sự chuẩn bị chu đáo hơn, có thể đƣa lại hiệu

                  quả lớn hơn và tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn loại đồng phạm không
                  có thông mƣu trƣớc.

                         Việc chia đồng phạm thành có thông mƣu trƣớc và đồng phạm không có

                  thông mƣu trƣớc có một ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn cũng nhƣ thấy
                  rõ pđƣợc tính chất nguy hiểm của từng hình thức đồng phạm và từ đó có những

                  tƣ tƣởng chỉ đạo trong lập pháp cũng nhƣ trong tƣ pháp sao cho thật phù hợp.

                         b. Phân loại theo dấu hiệu khách quan

                         - Đồng phạm giản đơn (đồng thực hành): là hình thức đồng phạm trong

                  đó những ngƣời tham gia vụ đồng phạm đều là ngƣời thực hành.

                         Ở hình thức đồng phạm này, mỗi ngƣời đồng phạm đều thực hiện hành
                  vi khách quan đƣợc mô tả trong cấu thành của tội phạm thuộc điều luật thuộc
                  phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Hành vi của mỗi ngƣời đều cùng cố ý

                  tham gia trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm, không có ai giữ vai trò là ngƣời
                  tổ chức, ngƣời xúi giục hay là ngƣời giúp sức. Còn về mối liên hệ giữa các
                  hành vi và các hình thức liên hệ giữa những ý định cùng phạm tội, thì giữa họ

                  không có sự bàn bạc, thỏa thuận về âm mƣu, thủ đoạn phạm tội. Sự liên kết về
                  mặt chủ quan giữa những ngƣời đồng phạm không đáng kể và chỉ hạn chế ở
                  việc mỗi ngƣời chỉ biết về hoạt động phạm tội của ngƣời khác ở thời điểm bắt

                  đầu thực hiện tội phạm hoặc thậm chí trong quá trình thực hiện tội phạm. Ví
                  dụ: Khoảng 19 giờ 30 phút, A dùng một kìm sắt và một con dao nhỏ trèo lên
                  cây cột điện tại xã X, nơi có dây truyền thanh chạy qua. Lúc đang cắt dây thấy
                  B đi qua, A rủ B làm cùng, B đồng ý. Tại đây, A và B thay nhau trèo lên sáu

                  cột điện có hai dƣờng dây bắc qua, dùng kìm cắt đƣợc dây trong năm khoảng,
                  mỗi khoảng đƣợc 50m. Tổng cộng chúng cắt đƣợc 500m, sau đó chúng dùng
                  dao bóc vỏ nhựa để lấy lõi đồng bên trong. Về mặt chủ quan, đồng phạm giản

                  đơn thƣờng không có sự phân công vai trò cụ thể (nhƣ ngƣời tổ chức, xúi giục,
                  giúp sức hay ngƣời thực hành), mà về cơ bản họ có một vai trò là những ngƣời
                  cùng hành động. Trong trƣờng hợp trên, cả A và B đều thực hiện hành vi đã

                  đƣợc mô tả trong CTTP tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015) với
                  vai trò là ngƣời thực hành. Nên những ngƣời đồng phạm trong hình thức đồng
                  phạm giản đơn đƣợc coi là những ngƣời đồng thực hành.

                         Đối với những tội phạm luật quy định chủ thể của tội phạm là chủ thể

                  đặc biệt, thì tất cả những ngƣời đồng thực hành phải có đầy đủ các dấu hiệu
   55   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65