Page 721 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 721
Phần thứ ba: VĂN HÓA 689
thay thế cho các loại xe kéo, xe thồ, ngựa thồ. Ngoài việc
chuyên dùng để chở than, chủ mỏ còn tận dụng xe ôtô để chở
công nhân lên mỏ nhằm rút bớt thời gian đi lại, tăng thêm
giờ làm việc của phu mỏ. Trong giao thông vận tải đường
thủy, bên cạnh những phương tiện thô sơ thuyền thống như
kết bè mảng vận chuyển tre, gỗ, vận chuyển than, người ta
sử dụng thuyền buồm hoặc xà lan có đầu máy kéo. Vào
những năm 1920, phương tiện vận tải đường thủy ở Cẩm
Phả đã đạt trọng tải khoảng 7.000 tấn. Sau khi người Pháp
cho xây dựng cảng Cửa Ông, việc xuất than được đẩy mạnh.
Việc vận chuyển than đi các nước thường do các tàu lớn
nước ngoài đảm nhiệm. Xuất hiện phương thức vận chuyển
hành khách bằng tàu máy chở khách: “Trước hết là các
luồng Móng Cái - Hải Phòng, Hà Cối - Hải Phòng, Tiên Yên -
Hải Phòng. Các tàu đi về luồng này đều “màn” ở các bến
Quảng Yên, Cát Hải, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông. Phần
lớn chủ tàu và thủy thủ là Hoa Kiều ở Móng Cái, Hải Phòng.
Về sau có thêm một số chủ tàu là người Việt ở Hải Phòng,
Nam Định.
Các tàu thủy này đều là “tàu chợ”, vừa chở người vừa chở
hàng. Các tàu nối tiếp nhau, thường là dăm ba ngày một
chuyến. Những ngày có bão hoặc gió cấp 5 trở lên, tàu không
dám rời bến. Trên biển gặp sương mù, tàu phải nằm chờ,
chưa kể những khi mắc cạn, vướng đá, hành khách ở trên tàu
dăm bảy ngày là chuyện thường... Hành khách trải chiếu
nằm lẫn lộn trong khoang tàu, nhà tàu nấu hai bữa ăn cho
những khách đã mua vé ăn cùng vé tàu... Lúc đầu các tàu
đều có công suất máy dưới 90 CV, tốc độ chừng 10 - 12 km/h,

