Page 722 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 722

690                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             sau các chủ đóng tàu to hơn và lắp máy đến 400 CV. Có tàu
             chở đến 500 - 600 người theo kiểu ngồi khít trên sàn” .
                                                                        1
                 Giao thông  đường sắt cũng có sự phát triển với những

             đường goòng chuyên dùng vận chuyển than.  Đầu tàu chạy
             bằng máy hơi nước, kéo theo khoảng 10 - 15 toa tàu, mỗi toa
             có trọng tải 8 - 13 tấn. Năm 1927, người Pháp đã thay thế

             đầu tàu chạy máy hơi nước trên tuyến đường sắt Cẩm Phả -
             Cửa Ông bằng đầu tàu chạy điện (điện áp 750 V).
                 Nhìn chung, giao thông ở Cẩm Phả thời Pháp thuộc đã có

             những bước chuyển biến mạnh mẽ, tập trung  ở các tuyến
             đường và phương tiện phục vụ cho việc khai thác than, lâm
             sản, tuy nhiên, ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa thì lại

             gần như không được quan tâm đầu tư xây dựng.
                 Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng

             lợi, năm 1955, kinh tế Cẩm Phả kiệt quệ về mọi mặt. Hệ
             thống đường giao thông trải qua một thời gian dài không tu
             sửa, nâng cấp, lại thêm tác động của chiến tranh nên bị hư
             hỏng nặng nề. Cả thị xã Cẩm Phả lúc bấy giờ chỉ có hơn 1

             km  đường rải nhựa  đi qua các công sở Pháp. Các phương
             tiện vận tải quan trọng phần lớn bị hư hại hoặc gần hết

             khấu hao. Trong bối cảnh bộn bề những khó khăn, thách
             thức ấy, nhân dân và chính quyền các cấp ở Cẩm Phả khẩn
             trương bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, hạ tầng cơ

             sở và khắc phục hậu quả chiến tranh. Công nhân các nhà
             máy, xí nghiệp cơ khí ở Cẩm Phả thi đua phục hồi những

             _______________

                 1. Xem Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Địa chí Quảng
             Ninh, Sđd, t.2, tr.563.
   717   718   719   720   721   722   723   724   725   726   727