Page 718 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 718

686                                   Cẩm Phả - Đất và Người


             chủ yếu vẫn là đường biển. Giao thông vận tải đường sông
             cũng hạn chế do hệ thống sông ngòi chảy qua địa bàn thành
             phố Cẩm Phả thường ngắn, dốc, lưu lượng nước không nhiều

             nên giá trị giao thông vận tải không cao.
                 Về giao thông đường bộ thời xưa, phương thức đi lại của
             các tộc người ở Cẩm Phả từ người Kinh đến người Sán Dìu,

             Tày, Hoa, Dao... chủ yếu là đi bộ và sử dụng các phương tiện
             thô sơ như quang gánh, tay nải... để vận chuyển hàng hóa.
             Một bộ phận có điều kiện hoặc quan lại, binh lính có thể đi

             kiệu, cưỡi ngựa hoặc sử dụng ngựa thồ, trâu bò kéo xe phục
             vụ cho việc  đi lại, vận chuyển hàng hóa. Riêng với dân tộc
             Sán Dìu, họ đã sáng tạo ra chiếc xe quệt dùng sức trâu kéo

             chuyên dùng cho vận chuyển nông sản và hàng hóa. Đây là
             một sáng tạo vô cùng độc đáo bởi chiếc xe quệt với kết cấu

             không quá phức tạp (những cây gỗ được lắp ghép, chằng buộc
             tạo nên một khung gỗ, xe quệt không có bánh nhưng lại có
             thể di chuyển trên địa hình đồi núi gồ ghề với độ dốc lớn) .
                                                                                1
             Hiện nay người Sán Dìu ở Cẩm Phả không còn sử dụng chiếc

             xe quệt nữa, kiểu xe này  đã hoàn toàn biến mất trong  đời
             sống đương đại.

                 Giao thông đường thủy ở Cẩm Phả thời kỳ trước đây khá
             phát triển. Với đường bờ biển dài dọc theo vịnh Bái Tử Long,
             có nhiều vụng, vịnh biển, cư dân Cẩm Phả từ bao đời nay đã

             gắn bó với biển, sống dựa vào biển và sử dụng nhiều loại
             phương tiện  để di chuyển trên biển. Tàu cá, thuyền buồm,

             _______________

                 1. Xem Tỉnh  ủy,  Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh:  Địa chí
             Quảng Ninh, Sđd, t.2, tr.554.
   713   714   715   716   717   718   719   720   721   722   723