Page 269 - Phẩm Tam Quốc
P. 269

Nghiệp Thành, trước sau chưa quá bảy tháng; tháng mười Kiến An năm thứ

               XVII Nam chinh Tôn Quyền, tháng tư năm sau đã về Nghiệp Thành, trước
               sau  không  quá  bảy  tháng;  tháng  ba  Kiến  An  năm  thứ  XX  ra  quân  đánh
               Trương Lỗ, tháng hai năm sau đã về Nghiệp Thành, thời gian dài hơn một
               chút, nhưng cũng không quá một năm.

                  Tào Tháo vội vội vàng vàng trở về Nghiệp Thành không phải vì vợ con.
               Cái chưa có được trên chiến trường, Tào Tháo muốn lấy nó nơi quan trường.
               Tây  chinh  Mã  Siêu,  Hàn  Toại  trở  về,  họ  Tào  được  “Triều  bái  không  phải
               xưng danh, vào triều không phải rảo bước, có thể đeo kiếm lên điện, như
               chuyện của Tiêu Hà”; Nam chinh Tôn Quyền trở về, họ Tào được phong là
               Ngụy công, thêm cửu tích, kiến xã tắc; đánh Trương Lỗ xong, Tào Tháo được

               “từ tước công thành Ngụy vương”. Gọi là “Triều bái không phải xưng danh”,
               lúc triều kiến thiên tử, quan Tư nghi chỉ báo quan hàm, không báo tên. Gọi là
               “vào triều không phải rảo bước”, lúc vào triều kiến thiên tử không phải bước
               ngắn, bước nhanh biểu lộ sự tôn kính. Gọi là “Đeo kiếm lên điện”, lúc triều
               kiến thiên tử vẫn được đeo kiếm, không phải cởi giầy. Gọi là “như chuyện
               của Tiêu Hà”, được đãi ngộ như Tiêu Hà thời Lưu Bang. Phong Ngụy công,
               tấn Ngụy vương, tức là từ tước hầu thăng lên tước công, rồi lại từ tước công

               thăng lên tước vương. Trong ba sự kiện đó, sự kiện thứ nhất là vào thời Kiến
               An năm thứ XVII, sự kiện thứ hai vào thời Kiến An năm thứ XVIII, sự kiện
               thứ ba vào thời Kiến An năm thứ XXL. Giữa những năm đó, thời Kiến An
               năm thứ XIX còn được “thiên tử coi Ngụy công cao hơn các chư hầu vương
               khác”, năm nào cũng có những điều mói, từng bước từng bước lên cao hơn.

                  Kiến An năm thứ XXII (Công nguyên năm 217), phần đãi ngộ về chính trị
               của Tào Tháo đã lên tới đỉnh điểm. Tháng tư, hoàng đế phê chuẩn cho “dùng
               cờ quạt như thiên tử, vào ra xưng cảnh tất”. Tháng mười, được hưởng “mũ
               đính mười hai viên ngọc, ngồi xe sơn son dát vàng, có sáu ngựa kéo, bên

               cạnh có xe sơn khác màu”. Cảnh tất là tiếng hô khi thiên tử ra vào. Ra hô là
               cảnh, vào xưng là tất. Mũ đính mười hai viên ngọc là mũ của thiên tử, theo
               chế độ thời Đông Hán, mũ miện hoàng đế đính mười hai viên ngọc trắng; tam
               công chư hầu bảy viên ngọc xanh; khanh đại phu năm viên ngọc đen. Hoàng
               đế chuyên ngồi xe sơn son dát vàng. Xe có sáu ngựa kéo cũng là sự đãi ngộ
               của hoàng đế, chư hầu chỉ có bốn ngựa. Xe có mầu khác là xe cùng đoàn với

               xe của hoàng đế, từ bốn phía xe được sơn đủ năm màu xanh, trắng, hồng,
               đen, vàng, Cờ quạt của hoàng đế thì khỏi phải nói. Sau khi được ban thưởng
               như vậy, về mặt nghi lễ Tào Tháo không khác gì hoàng đế. Hơn nữa, với sự
               độc chiếm đại quân, Tào Tháo đã là hoàng đế tuy chưa xưng hiệu, còn giống
   264   265   266   267   268   269   270   271   272   273   274