Page 679 - Microsoft Word - Cam Pha dat va nguoi.doc
P. 679

Phần thứ ba: VĂN HÓA                                             647


                 Bánh tài lồng ệp vốn có nguồn gốc từ người Hoa. Bánh này
             thường  được làm trong ngày tết  để dâng cúng tổ tiên. Bánh

             được làm từ bột gạo nếp với đường phèn, gừng, lạc, vừng. Sau
             khi nấu xong hỗn hợp nước đường phèn và gừng, cho bột vào và
             quấy đều tay cho thật quyện. Tùy từng khẩu vị gia đình, có thể

             cho thêm lạc rang vào quấy cùng  để tăng vị thơm ngon của
             bánh. Để hấp bánh, người Sán Dìu thường dùng lá chít, hoặc lá

             chuối lót dưới đáy và xung quanh, cho bánh vào nồi hấp kỹ, hấp
             cách thủy khoảng 8 giờ là bánh chín. Bánh sau khi hấp xong có

             thể rắc vừng rang đều lên trên bề mặt của bánh tạo độ thơm và
             hình thức  đẹp. Bánh có màu vàng nâu  đều, mềm dẻo, ngọt

             thanh. Bánh có nhiều kích thước khác nhau, bánh nhỏ thường
             được dùng để dâng cúng trên bàn thờ, bánh to được cắt thành

                                                                                1
             miếng nhỏ  để cúng gia tiên vào ngày lễ tết của gia  đình .
             Khi ăn, chấm bánh với đường, mật. Bánh này để được rất lâu,

             có thể vài tuần.
                 Bánh viên bột  được làm từ bột nếp pha với bột tẻ, gột
             bằng nước lạnh, nặn thành từng viên nhỏ,  đem luộc. Bánh

             này gần giống với bánh trôi nước của người Kinh nhưng khác
             là không có nhân mật hay đường. Loại bánh này được người

             Sán Dìu làm vào dịp Tết 14 tháng 7 âm lịch.
                 Đồ uống của người Sán Dìu đa dạng, gồm đồ uống thông

             thường, đồ uống đặc sản và thức uống chữa bệnh.
                 Đồ uống phổ biến hằng ngày của người Sán Dìu là các

             loại nước chè, nước vối. Chè  được trồng quanh nhà, hái lộc
             _______________

                 1. Xem Trần Quốc Hùng: Quang Hanh - Đất và Người, Sđd, tr.114.
   674   675   676   677   678   679   680   681   682   683   684